Ảnh nền banner

Quốc hội thảo luận về Nghị quyết các Chương trình Mục tiêu quốc gia

Ngày đăng:24/11/2025

Lượt xem : 474

16px

Sáng ngày 25/11/2025, tiếp tục chương trình làm việc của Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV, Đoàn ĐBQH tỉnh tham gia thảo luận tại Tổ đối với Nghị quyết về chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2026-2035; chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia về chăm sóc sức khỏe, dân số và phát triển giai đoạn 2026 - 2035. Đoàn ĐBQH tỉnh Ninh Bình tham dự thảo luận tại Tổ số 10 cùng với Đoàn ĐBQH tỉnh Quảng Trị. Đồng chí Nguyễn Hải Dũng, Phó Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh Ninh Bình chủ trì phiên thảo luận.


Ảnh: Đại biểu Phạm Hùng Thắng, Phó Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh Ninh Bình phát biểu tại thảo luận Tổ

 

Tham gia phát biểu tại phiên thảo luận tổ đối với Chương trình mục tiêu quốc gia hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2026-2035 và Chương trình mục tiêu quốc gia về chăm sóc sức khoẻ, dân số và phát triển giai đoạn 2026 – 2035, đại biểu Phạm Hùng Thắng, Phó Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh tán thành về sự cần thiết của hai chương trình Mục tiêu quốc gia, đại biểu cho rằng đây là các chương trình mang tính chất đầu tư công nhằm cụ thể hóa Nghị quyết  số 71 và Nghị quyết 72 của Bộ Chính trị về Giáo dục – Đào tạo và Y tế.

Đại biểu cho biết, hiện nay ngành Giáo dục - Đào tạo và ngành Y tế về chăm sóc sức khoẻ nhân dân và công tác dân số đang được nhận được sự quan tâm rất lớn và có tính toàn diện của Đảng, Nhà nước và Chính phủ; Trung ương Đảng, Bộ Chính trị đã có các nghị quyết, kết luận định hướng về đường lối, chính sách quan trọng cho giáo dục và Y tế; tại các kỳ họp trước Quốc hội đã sửa đổi ban hành nhiều dự án luật và các nghị quyết về Giáo dục, Y tế và tại Kỳ họp 10 - kỳ họp cuối cùng của Quốc hội Khoá XV, Quốc hội cũng xem xét, thảo luận, cho ý kiến và sẽ thông qua 3 dự án luật và 01 Nghị quyết về cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội tạo đột phá cho phát triển Giáo dục và Đào tạo; 02 dự án luật; 01 Nghị quyết về cơ chế, chính sách đột phá cho công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân; 02 Nghị quyết để phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2026 – 2035 và và Chương trình mục tiêu quốc gia về chăm sóc sức khoẻ, dân số và phát triển giai đoạn 2026 – 2035.

Có thể nói, Chương trình mục tiêu Quốc gia là chương trình lớn, mang tầm Quốc gia, phải tập trung một nguồn lực đầu tư rất lớn để tạo những đột phá, chuyển biến lớn, quan trọng về một số lĩnh vực trong một thời gian nhất định. Tổng số vốn cho 02 Chương trình trong cả giai đoạn 2026 - 2035 này lên đến trên 700 nghìn tỷ đồng; trong đó Chương trình về Giáo dục là trên 580 nghìn tỷ (DT 15/11); Giai đoạn 2026 – 2030 tối thiểu là 174.673 tỷ đồng; giai đoạn 2031 – 2035 là khoảng 405.460 tỷ đồng; Chương trình mục tiêu quốc gia về chăm sóc sức khoẻ, dân số là gần 125.500 tỷ đồng; Giai đoạn 2026 – 2030 tối thiểu là 88.635 tỷ đồng; giai đoạn 2031 – 2035 khoảng trên 36.800 tỷ đồng. Nếu tính thêm cả Chương trình mục tiêu quốc gia về nông thôn mới, giảm nghèo bền vững, phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đến năm 2035 thì đây là nguồn lực rất lớn; trong khi đó còn rất nhiều chương trình, dự án lớn khác của Quốc gia đã, đang và sắp triển khai thực hiện ...Đại biểu đề nghị Chính phủ có giải trình làm rõ cân đối nguồn lực này như thế nào? nguồn ở đâu? đã  nằm trong kế hoạch đầu tư công trung hạn 5 năm tới chưa? Phân bổ như thế nào? Ngân sách địa phương, nhất là các địa phương còn khó khăn về ngân sách thì khả năng cân đối, đáp ứng vốn đối ứng ra sao? có tính bền vững, khả thi thực hiện không?   

Trong bối cảnh tinh gọn bộ máy và sắp xếp đơn vị hành chính, thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, các địa phương đang phải đồng thời triển khai nhiều chương trình, nghị quyết. Do vậy, đại biểu đề nghị Chính phủ làm rõ hơn cơ chế trong tổ chức thực hiện, bộ máy điều phối và cơ chế quyết định chi tiêu phù hợp để cấp cơ sở không bị lúng túng, đảm bảo hiệu quả triển khai.

Đại biểu cho rằng, trong các Chương trình này, chỉ đang tập trung vào vốn đầu tư công và kinh phí chi thường xuyên; chưa thấy dự tính và vai trò của đầu tư trong các Chương trình mục tiêu quốc gia này như thế nào? Việc phát triển kinh tế tư nhân trong hệ thống giáo dục tư thục và kể cả đầu tư trong lĩnh vực y tế chăm sóc sức khoẻ, dân số...và công tác xã hội hoá; cơ chế, chính sách để huy động nguồn hợp pháp khác như thế nào? Việc triển khai thực hiện lồng ghép các mục tiêu, nhiệm vụ của 02 chương trình mục tiêu này với chương trình mục tiêu quốc gia về nông thông mới, giảm nghèo bền vững, phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đến năm 2035 như thế nào? gắn với kế  hoach đầu tư công, đầu tư thường xuyên thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội hằng năm và từng giai đoạn của các địa phương như thế nào? cũng cần làm rõ, tránh trùng lặp trong đầu tư thực hiện...


Ảnh: Đại biểu Trần Thị Hiền phát biểu tại thảo luận Tổ

 

Cho ý kiến về Chương trình mục tiêu quốc gia về chăm sóc sức khỏe, dân số và phát triển giai đoạn 2026 - 2035, đại biểu Trần Thị Hiền tập trung vào ba vấn đề chính.

Thứ nhất, về đối tượng thụ hưởng Chương trình, theo đại biểu, Dự thảo Nghị quyết không có điều khoản xác định đối tượng thụ hưởng Chương trình, nội dung này chỉ được nêu tại Tờ trình và Báo cáo tóm tắt của Chính phủ về Chương trình. Tuy nhiên, trong Khoản 1 Điều 1 dự thảo Nghị quyết, nội dung về Mục tiêu tổng quát đề cập đến đối tượng “người yếu thế”, nhưng đến mục tiêu cụ thể thì lại đề cập đến 2 đối tượng “người yếu thế” và “người dễ bị tổn thương”. Đồng thời, trong thiết kế Chương trình theo Tờ trình số 1048, ngày 12/11/2025 của Chính phủ thì dành riêng Dự án 4, với tên gọi “Nâng cao chất lượng chăm sóc xã hội cho người yếu thế” với 2 tiểu dự án gồm Tiểu dự án 1 về Nâng cao năng lực mạng lưới chăm sóc xã hội và Tiểu dự án 2 về Bảo vệ, chăm sóc, phát triển cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt.

Điều này cho thấy chưa có sự rõ ràng, thống nhất trong xác định đối tượng này. Vấn đề đặt ra là, trong dự thảo Nghị quyết nên dùng thuật ngữ “người yếu thế” hay “người dễ bị tổn thương”. Rà soát trong cơ sở dữ liệu pháp luật hiện hành thì chưa có đạo luật nào sử dụng thuật ngữ “người yếu thế”, nhưng thuật ngữ “người dễ bị tổn thương” thì đã được chính thức hóa trong các luật như Luật Phòng, chống thiên tai, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Việc làm, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng… Rõ nhất là tại Khoản 1 Điều 1 Luật Phòng thủ dân sự đã đưa ra khái niệm xác định phạm vi người dễ bị tổn thương. Theo đó, người dễ bị tổn thương bao gồm trẻ em, người cao tuổi, phụ nữ đang mang thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, người khuyết tật, người bị bệnh hiểm nghèo, người nghèo, người mất năng lực hành vi dân sự, người sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và các đối tượng khác theo quy định của pháp luật. Như vậy, việc sử dụng thuật ngữ này vẫn có khả năng bao quát các nhóm xã hội khác như người di cư, nạn nhân của hành vi mua bán người, người nhiễm HIV… Đại biểu đề nghị trong dự thảo Nghị quyết phê duyệt chủ trương đầu tư chỉ nên sử dụng thuật ngữ “người dễ bị tổn thương”, không nên sử dụng thuật ngữ “người yếu thế” hoặc không sử dụng đồng thời 2 thuật ngữ để phù hợp, đồng bộ với pháp luật hiện hành.

Đại biểu đề nghị Cơ quan chủ trì soạn thảo rà soát kỹ nội dung Báo cáo về chủ trương đầu tư chương trình để xác định rõ đối tượng thụ hưởng phù hợp với mục tiêu của từng dự án cụ thể.

Thứ hai, qua nghiên cứu Tờ trình của Chính phủ, đại biểu băn khoăn đối với việc đưa một số hoạt động vào triển khai trong Chương trình mục tiêu quốc gia này vì có hoạt động thực chất là nhiệm vụ thường xuyên của cơ quan quản lý nhà nước, có hoạt động không liên quan đến mục tiêu của dự án hoặc tiểu dự án, đại biểu đề nghị cân nhắc về sự cần thiết của một số hoạt động cụ thể trong Dự án 3 Dân số và phát triển.

Thứ ba, về hoạt động nâng cao năng lực cho cán bộ, đại biểu đề nghị cần rà soát kỹ lưỡng và nghiên cứu phương án tích hợp, xây dựng hoạt động này thành một hợp phần thể hiện tập trung, đầy đủ, đồng bộ, không trùng lặp, đáp ứng rõ yêu cầu đầu tư nâng cao năng lực, trình độ cho cán bộ, bảo đảm thuận lợi khi xây dựng và vận hành Chương trình./.

Vân Giang. Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh

Nguồn :admin



Tin liên quan
Quy hoạch tỉnhPhổ biến giáo dục pháp luật Cổng thông tin quốc hộiCơ sở dữ liệu luật Việt NamTrang thông tin tiếp công dânTrung tâm phục vụ hành chính côngCổng dịch vụ công quốc giaQuản lý văn bản và điều hànhLịch làm việc
0 người đang online
footer-bg

TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI VÀ HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH

Cơ quan chủ quản: Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh Ninh Bình

Phụ trách: Bà Vũ Thị Liễu, Phó Chánh Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh, Trưởng Ban Biên tập Trang tin

Địa chỉ: Đường Đinh Điền, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình

Hotline: 0229.388613  Fax: 0229.3886130  Email: vpdoandbqh&hdnd@ninhbinh.gov.vn

Chứng nhận tín nhiệm mạng